Đường đến án tử của sĩ quan công an ngoại tình

Ngày 16/4/2004, trưởng công an thị trấn Uông Thọ Như nhận được cuộc gọi từ mẹ vợ báo tin đã hai ngày không liên lạc được với con gái tên Lý Tú Thanh. Như cho biết hai vợ chồng rạn nứt từ lâu, không rõ tung tích cô. Mẹ Thanh quyết định báo cảnh sát.

Dựa vào tín hiệu điện thoại di động của Thanh trước khi mất tích, cảnh sát xác định được nơi ở của cô là một căn hộ rộng hơn 130 m2 mua vào cuối 2003. Nhân viên bảo vệ cho biết Thanh thường lái xe Volkswagen Bora chở một người đàn ông đến đây.

Lần theo manh mối này, cảnh sát phát hiện chiếc Bora của Thanh đã đi chặng đường dài trên quốc lộ Hô Lương vào ngày 15/4. Nhưng các nhân chứng cho biết tài xế là đàn ông. Chiếc xe được tìm thấy bị bỏ lại ở thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây.

Cảnh sát nhanh chóng tìm ra thông tin tài xế là Ngụy Tiến, 37 tuổi. Khi bị thẩm vấn, Tiến có nhiều biểu hiện đáng ngờ, sợ hãi không dám đối diện với các điều tra viên.

Ban đầu anh ta phủ nhận quen biết Thanh, nhưng khi cảnh sát liên tục hỏi về việc lái xe của Thanh lên quốc lộ Hô Lương sau khi cô mất liên lạc, Tiến bỗng mất bình tĩnh và hét lên: “Tôi thú nhận. Tôi không phải là chủ mưu, tôi chỉ trợ giúp người khác”. Sau đó, anh ta kể lại toàn bộ quá trình phạm tội.

Theo lời khai, kẻ chủ mưu là Lương Quan Trung, 48 tuổi, anh họ của Tiến. Ông Trung là trưởng công an phường Nam Địa của Công an thành phố Hohhot, chức vụ này mang lại cho ông ta một số quyền lực và nhiều khoản thu nhập ngầm.

Ông Trung gặp Thanh, kém 15 tuổi, vào năm 2000 khi cô cùng chồng đến thăm bạn học cũ tại trụ sở công an phường Nam Địa, ngày 29/1/2000. Ông Trung để ý Thanh ngay lập tức vì vẻ xinh đẹp, gợi cảm. Khi rời đi, ông ta lặng lẽ xin số điện thoại di động của Thanh.

Kể từ đó, Thanh thường xuyên nhận được những cuộc điện thoại và tin nhắn gợi tình từ ông Trung. Cô thường xuyên đến thăm trụ sở công an phường Nam Địa, lần nào cũng được ông Trung tiếp đãi nồng nhiệt.

Khi em gái Thanh mua xe khách để kinh doanh vận tải, ông Trung chủ động giúp đỡ và hoàn tất các thủ tục cấp phép, vận hành chỉ trong một ngày. Được người có chức quyền nhiệt tình theo đuổi, Thanh dần xiêu lòng.

Sau khi có được người đẹp, ông Trung hào phóng tặng Thanh những món quà đắt tiền, đưa đi du lịch nhiều nơi, ngang nhiên sóng đôi với tình nhân ở đơn vị. Có người viết đơn tố cáo ông Trung quan hệ bất chính với phụ nữ có chồng khiến ông ta bị Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Công an thành phố điều tra. Ông Trung bày tỏ sẽ lập tức cắt đứt với tình nhân.

Tuy nhiên thực tế, ông ta chuyển sang quan hệ bí mật. Sau đó, để dỗ dành người tình, ông Trung đầu tư 160.000 nhân dân tệ mua căn hộ rộng 130 m2 vào cuối 2003 làm tổ ấm tình yêu, mua ôtô dưới danh nghĩa vợ chồng tặng Thanh và lợi dụng quyền lực để lắp biển số công an cho xe.

Khi phát hiện vợ ngoại tình, Như cảnh cáo Thanh “tự giải quyết hậu quả”. E dè chồng, Thanh hạn chế gặp người tình, nhưng chỉ sau một tháng, cô để lại “thư chia tay”, quyết định bỏ chồng và con gái để chung sống với ông Trung.

Không muốn làm tình nhân nữa, Thanh yêu cầu ông Trung ly dị vợ để cưới mình. Nhưng ông ta chưa bao giờ nghĩ đến việc ly hôn vì ngại thể diện và thương con gái. Ông Trung cố thuyết phục nhân tình từ bỏ ý định không được nên chọn cách trốn tránh, lạnh nhạt, mặc Thanh giở đủ trò khóc lóc ầm ĩ.

Ngày 1/1/2004, Thanh đợi mãi không thấy ông Trung đến “tổ ấm tình yêu”, gọi điện nhắn tin không được, cô ta giận dữ nhờ người chuyển lời: “Nếu trong vòng hai tiếng anh không về nhà thì sẽ vĩnh viễn không nhìn thấy em nữa, em đã viết sẵn di thư, lập tức kết liễu tính mạng”.

Khi ông Trung vội vàng chạy đến, thấy Thanh mở bình gas tự tử, thư tuyệt mệnh đặt trên bàn trà. Ông ta đành phải dỗ dành, cố gắng không làm lớn chuyện. Một tháng sau, Thanh tiếp tục viết di thư, cầm dao dọa tự tử, ông Trung ngăn cản và hứa ly hôn để xoa dịu.

Tuy nhiên, khi biết ông Trung chỉ tìm cách trì hoãn thời gian, Thanh gọi điện đến nhà ông ta quấy rối, đến văn phòng công an làm ầm ĩ. Mất hết thể diện, ông Trung tức giận đề nghị cắt đứt quan hệ với Thanh.

Ngày 16/3/2004, Thanh viết bức di thư thứ ba, ép ông Trung viết giấy cam kết sẽ ly dị và cưới mình vào năm 2005. Thanh cho rằng giấy cam kết này tương đương với việc ông Trung thừa nhận mối quan hệ của hai người nên không tiếp tục gây chuyện nữa. Tuy nhiên, cô ta không biết rằng ông Trung đã lén cất di thư của mình vào cặp táp, không xé đi như hai lần trước.

Ông Trung âm thầm lên kế hoạch “khiến Thanh biến mất” để cứu vãn danh tiếng, địa vị và gia đình. Ông ta tìm em họ là Tiến thay mình gây án, dẫn anh ta đến nhà Thanh vài lần.

Tiến vốn là nông dân ở Trùng Khánh. Nhờ ông Trung chiếu cố, Tiến đến Hohhot mở quán ăn, kinh doanh rất tốt. Anh ta mua được nhà và đưa vợ con đến sống cùng. Vì vậy, Tiến rất biết ơn anh họ, nhưng khi nhận được yêu cầu giết người từ ông Trung, anh ta sợ hãi không dám ra tay.

Ngày 14/4/2004, ông Trung một lần nữa gọi điện cho Tiến để bàn việc “trừ khử Thanh”, Tiến biết mình không thể trốn thoát. Chiều hôm đó, dưới chỉ thị của ông Trung, Tiến đến khu căn hộ xác nhận Thanh đang ở nhà.

Khoảng 19h, cả hai lái xe đến nhà Thanh. Trên đường đi, họ mua thêm cờ lê, xẻng, một con dao làm bếp và nhiều túi bạt. Lúc 20h, Trung lên tầng gặp người tình, giả vờ như bình thường. Tiến ở dưới lầu gọi điện cho Thanh, nói muốn mua một căn hộ giống nhà cô nên muốn vào xem thử.

Sau đó ông Trung cầm điện thoại di động của Thanh xóa thông tin. Hai người cãi vã dữ dội, lao vào đánh nhau. Lúc này, ông Trung ra hiệu cho Tiến ra tay.

Sau khi gây án, cả hai lái xe rời khỏi hiện trường. Hôm sau, ông Trung ra lệnh cho Tiến cùng quay lại hiện trường dọn dẹp. Hai người phân xác, phi tang ở ba nơi. Ông Trung bắt Tiến thiêu hủy và chôn lấp các công cụ gây án, đồng thời bỏ lại ôtô của Thanh ở Đại Đồng. Ông ta còn chỉ đạo Tiến đặt “thư tuyệt mệnh” của Thanh trên bàn trang điểm, muốn biến cái chết của cô thành vụ tự tử.

Ngày 18/4/2004, ông Trung đưa cho Tiến 2.000 nhân dân tệ, bảo rời khỏi Hohhot ngay lập tức.

Từ lời khai của Tiến, cảnh sát tìm thấy thi thể nạn nhân. Qua giám định pháp y và xác định danh tính, Thanh tử vong do ngạt thở và chấn thương sọ não.

Ngày 6/7/2004, ông Trung bị bắt.

Lương Quan Trung trên tòa. Ảnh: Chinacourt

Ở phiên tòa sơ thẩm vào tháng 6/2005, ông Trung và Tiến đều bị tuyên án tử hình.

Tòa cho biết sau khi bị bắt, ông Trung đã tố cáo hành vi phạm tội của người khác để lấy công chuộc tội. Tuy nhiên, tòa án cho rằng thủ đoạn giết người và phân xác của hai bị cáo là vô cùng tàn ác, mức độ vô cùng nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội và khiến dư luận phẫn nộ. Theo quy định của pháp luật, ông Trung không thể được giảm nhẹ hình phạt.

Hai người kháng cáo nhưng ba tháng sau, TAND cấp cao khu tự trị Nội Mông ra phán quyết bác đơn kháng cáo, giữ nguyên bản án ban đầu và phê chuẩn án tử hình đối với hai bị cáo. Cả hai phải bồi thường dân sự số tiền 233.000 nhân dân tệ cho gia đình nạn nhân.

Sau khi tuyên án vào ngày 22/9/2005, ông Trung và Tiến bị xử tử bằng cách tiêm thuốc độc.

Trước khi hành quyết, ông Trung được cho phép gặp gia đình lần cuối, ôm con gái khóc vì ân hận.

Tuệ Anh (Theo Sina, 163)

Nguồn bài viết: https://vnexpress.net/duong-den-an-tu-cua-si-quan-cong-an-ngoai-tinh-4741850.html

Xem thêm: